Tu viện Lorsch năm 1900 trước khi được trùng tu
Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016
10 Đức (5) Tu viện Lorsch
Tu viện Lorsch nguyên là một tu viện Dòng Biển Đức ở ngoại ô thành phốLorsch trong miền nam của bang Hessen thuộc Đức. Tu viện được thành lập năm 764 và đã tồn tại độc lập 468 năm cho đến khi bị sáp nhập vào địa phận tổng Giám mục Mainz năm 1232. Đầu thời Trung cổ, tu viện đã là trung tâm văn hóa và tôn giáo của Vương quốc Frank. Ngôi nhà có cổng vào phía dưới là công trình xây dựng duy nhất vẫn còn toàn vẹn của thời Karolingervà là một trong các di tích quan trọng nhất của kiến trúc tiền Roman trong nước Đức.


Tu viện Lorsch năm 1900 trước khi được trùng tu
Tu viện Lorsch năm 1900 trước khi được trùng tu
Nhãn:
764,
kiến trúc tiền Roman,
thánh Nazarius
Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016
10 Đức (4) Nhà thờ chính tòa Hildesheim
Nhà thờ chính tòa Hildesheim (tiếng Đức: Hildesheimer Dom) là nhà thờ chính tòa của Giáo hội Công giáo tại thành phố Hildesheim, Đức

Nhà thờ chính tòa Hildesheim được xây từ năm 1010 tới năm 1020 theo lốikiến trúc Roman
Nhà thờ chính tòa Hildesheim được xây từ năm 1010 tới năm 1020 theo lốikiến trúc Roman
Trên tường ngoài của gian hậu cung nhà thờ, có một bụi hoa hồng huyền thoại 1.000 năm, tượng trưng cho sự thịnh vượng của thành phố Hildesheim. Theo truyền thuyết thì bao lâu bụi cây này còn nở hoa thì thành phố Hildesheim không bị suy tàn. Năm 1945 khi đồng minh ném bom phá hủy nhà thờ chính tòa này, bụi hoa hồng đó vẫn sống. Các rễ của nó nằm nguyên vẹn dưới đống gạch vụn, và lại mọc lên mạnh mẽ.
10 Đức (3) Nhà thờ Wies
Nhà thờ Wies (tiếng Đức: Wieskirche) là một nhà thờ hình trái xoan theo kiểu kiến trúc rococo, nằm trên đồi thấp dưới chân dãy núi Alpes,

Năm 1738 một phụ nữ đã nhìn thấy nước mắt chảy xuống từ một tượngChúa Giêsu bằng gỗ ọp ẹp. Phép lạ này khiến cho nhiều người hành hương đổ xô tới chiêm ngưỡng thánh tượng này. Họ đã cầu nguyện trước tượng Chúa Giêsu trên bàn thờ và nhiều người quả quyết là mình đã được lành bệnh nhờ phép lạ của Chúa.
Năm 1740 người ta xây một nguyện đường nhỏ để chứa thánh tượng, nhưng nguyện đường này đã sớm tỏ ra là quá nhỏ, không đủ chứa các tín đồ hành hương. Do đó tu viện Steingaden quyết định đặt kiến trúc sưDominikus Zimmermann thiết kế, xây một nhà thờ riêng.
Dominikus Zimmermann đã dành ra 11 năm để thực hiện công trình này. Việc xây dựng diễn ra từ năm 1745 tới 1754. Phần nội thất được trang trí bằng loại vữa stucco theo truyền thống của trường phái Wessobrunner. "Tất cả được làm cho nhà thờ để làm cho (hiện tượng) siêu nhiên có thể nhìn thấy được. Các tượng điêu khắc và các tranh tường phối hợp với nhau sao cho tính thần thánh thiêng liêng thể hiện ở dạng có thể thấy được
10 Đức (2) Nhà thờ chính tòa Speyer
Nhà thờ chính tòa Speyer (hay nhà thờ St.Mary và St.Steven) là một nhà thờ nằm ở Speyer, Đức, hiện là nhà thờ lớn nhất thế giới còn tồn tại được xây theo phong cách kiến trúc Roman.

10 Đức (1) Nhà thờ chính tòa Aachen
Nhà thờ chính tòa Aachen (thường được coi là "Nhà thờ chính tòa cung đình" (tiếng Đức: Kaiserdom) là một nhà thờ Công giáo tại thành phốAachen, miền tây Đức. Nhà thờ này là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Aachen, là cũng là nhà thờ chính tòa lâu đời nhất ở Bắc Âu và trong thờitrung cổ, nó được biết đến với tên gọi Nhà thờ Hoàng gia Thánh Maria của Aachen.
Trong vòng gần 600 năm, từ năm 936 tới 1531, nhà thờ Aachen đã được dùng làm nơi tấn phong cho 30 vị vua và 12 hoàng hậu Đức. Nhà thờ này có ngai tòa giám mục từ năm 1802 tới năm 1825. Năm 1930 giáo phận lại được tái lập ở đây.
Charlemagne bắt đầu xây nhà nguyện cung đình Aachen khoảng năm 792, song song với việc xây dựng hoàn tất phần còn lại của cung điện.
Charlemagne từ trần năm 814 và được an táng trong nhà thờ chính tòa này.
Năm 1165, hoàng đế Frederick Barbarossa lại sai mở hầm mộ này và đặt xác hoàng đế Charlemagne vào 1 quách làm bằng đá hoa giả sứ (parian marble), được nói là cùng loại với quách chôn hoàng đế Augustus Caesar của La Mã. Các xương của Charlemagne nằm trong quách này cho tới năm 1215, hoàng đế Frederick II lại cho đặt vào 1 quan tài bằng vàng và bạc. Một bộ luật bằng giấy da bê thuộc chôn chung với Charles được lấy đi.
Hòm thánh tích Maria[sửa | sửa mã nguồn]
Hòm thánh tích Maria đặt tại gian cung thánh từ khoảng năm 1220-1239. Được trang trí bằng hình chúa Kitô, Đức Mẹ Maria, Charlemagne, giáo hoàng Leo III cùng 12 Tông đồ, hòm thánh tích này gồm có 4 thánh tích lớn của Aachen: áo choàng không tay của Đức Mẹ, vải liệm chúa Kitô, vải liệm đầu thánh Gioan Tẩy giả và khăn quấn quanh thắt lưng chúa Kitô. Theo một phong tục từ năm 1349, cứ mỗi 7 năm, các thánh tích này lại được lấy ra khỏi hòm, đưa ra trưng bày trong dịp Đại hành hương Aachen. Kỳ hành hương mới rồi diễn ra trong tháng 6 năm 2007.
10 Đức
Đức (tiếng Đức: Deutschland, tiếng Anh: Germany), quốc danh chính thức làCộng hòa Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) là một quốc gia liên bang nằm ở Trung Âu và có chung đường biên giới với 9 nước là:Đan Mạch (về phía bắc), Ba Lan và Séc (phía đông), Áo và Thụy Sĩ (về phía nam), Pháp, Luxembourg, Bỉ và Hà Lan (về phía tây). Lãnh thổ Đức trải rộng 357.021 km vuông và có khí hậu ôn đới. Với gần 82 triệu người, Đức là nước có dân số lớn nhất trong Liên minh châu Âu và là nước có số dân nhập cư lớn thứ ba trên thế giới.[4] Sau khi Hoa Kỳ, Đức là điểm đến di cư phổ biến thứ hai trên thế giới.
Ngày 2 tháng 2 năm 962 thường được xem như là ngày bắt đầu của truyền thống quốc gia Đức, là ngày Otto I là vua nước Frank Đông đầu tiên lên ngôi Hoàng đế tại thành La Mã và do đó thành lập Đế quốc La Mã Thần thánh lần thứ hai.
Sau khi vua cha qua đời vào năm 1740, Friedrich lên nối ngôi báu, tức là ông vua thiên tài Friedrich II Đại Đế.
Đế chế Đức được tuyên bố thành lập ở Versailles vào ngày 18 tháng 1 năm 1871 sau khi nước Phổ và các quốc gia Đức đồng minh chiến thắng cuộc chiến tranh chống Pháp1870/1871, dưới sự nỗ lực của Otto von Bismarck, là thủ tướng đầu tiên của Đế chế Đức, người được gọi là "Thủ tướng Sắt thép". Vua Wilhelm I lên làm Hoàng đế nước Đức.
Ngày 30 tháng 1 năm 1933 Hindenburg bổ nhiệm Adolf Hitler làm thủ tướng đế chế.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai được bắt đầu với việc Đức tấn công vào Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939. Khoảng 55 triệu người đã tử vong trong cuộc chiến tranh này. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai được kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức. Hitler đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 trước đó. Những kẻ có trách nhiệm sống sót bị phán xử trong Tòa án Nürnberg sau này
Ngày 2 tháng 2 năm 962 thường được xem như là ngày bắt đầu của truyền thống quốc gia Đức, là ngày Otto I là vua nước Frank Đông đầu tiên lên ngôi Hoàng đế tại thành La Mã và do đó thành lập Đế quốc La Mã Thần thánh lần thứ hai.
Sau khi vua cha qua đời vào năm 1740, Friedrich lên nối ngôi báu, tức là ông vua thiên tài Friedrich II Đại Đế.
Đế chế Đức được tuyên bố thành lập ở Versailles vào ngày 18 tháng 1 năm 1871 sau khi nước Phổ và các quốc gia Đức đồng minh chiến thắng cuộc chiến tranh chống Pháp1870/1871, dưới sự nỗ lực của Otto von Bismarck, là thủ tướng đầu tiên của Đế chế Đức, người được gọi là "Thủ tướng Sắt thép". Vua Wilhelm I lên làm Hoàng đế nước Đức.
Ngày 30 tháng 1 năm 1933 Hindenburg bổ nhiệm Adolf Hitler làm thủ tướng đế chế.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai được bắt đầu với việc Đức tấn công vào Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939. Khoảng 55 triệu người đã tử vong trong cuộc chiến tranh này. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai được kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức. Hitler đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 trước đó. Những kẻ có trách nhiệm sống sót bị phán xử trong Tòa án Nürnberg sau này
Nhãn:
dân số lớn nhất,
Đế quốc La Mã Thần thánh,
Friedrich II Đại Đế,
ngày 1 tháng 9 năm 1939,
ngày 18 tháng 1 năm 1871,
Ngày 2 tháng 2 năm 962,
Ngày 8 tháng 5 năm 1945
Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016
9 Đan Mạch (2) Nhà thờ chính tòa Roskilde
Nhà thờ chính tòa Roskilde (tiếng Đan Mạch: Roskilde Domkirke), tại thành phố Roskilde trên đảo Zealand (Sjælland) là 1 nhà thờ kiểu kiến trúc Gothicđược xây bằng gạch đầu tiên ở Bắc Âu. Nhà thờ này được xây trong thế kỷ 12 và 13 và vừa theo kiểu kiến trúc Gothic vừa có nét kiến trúc Roman và là nhà thờ chính tòa duy nhất của đảo Zealand cho tới thế kỷ thứ 20. Hai chỏm tháp nhọn cao của nhà thờ vượt lên nền trời thành phố.

Ngày 14.5.1443, một trận hỏa hoạn thiêu hủy phần lớn thành phố, làm tổn hại nhà thờ rất nhiều và năm 1464 nhà thờ được xây lại. Vua Christian I cho tiền xây thêm 1 nhà nguyện dính vào nhà thờ mang tên Ba Vua. Nhà vua và hoàng hậu Dorotea av Brandeburg được chôn tại nhà nguyện đó, sau khi nữ hoàng Margrethe I được chôn ở đây. Nhà nguyện này có 1 cây cột đá gọi là Cột của vua (King's Column). Nhiều vua chúa Đan Mạch và các nhân vật hoàng gia quan trọng đến thăm, đã được ghi chiều cao của mình trên cột đó, kể cả Edward VII của Anh, Peter Cả của Nga, và vua Thái Lan Chulalongkorn.
Ngày 14.5.1443, một trận hỏa hoạn thiêu hủy phần lớn thành phố, làm tổn hại nhà thờ rất nhiều và năm 1464 nhà thờ được xây lại. Vua Christian I cho tiền xây thêm 1 nhà nguyện dính vào nhà thờ mang tên Ba Vua. Nhà vua và hoàng hậu Dorotea av Brandeburg được chôn tại nhà nguyện đó, sau khi nữ hoàng Margrethe I được chôn ở đây. Nhà nguyện này có 1 cây cột đá gọi là Cột của vua (King's Column). Nhiều vua chúa Đan Mạch và các nhân vật hoàng gia quan trọng đến thăm, đã được ghi chiều cao của mình trên cột đó, kể cả Edward VII của Anh, Peter Cả của Nga, và vua Thái Lan Chulalongkorn.
9 Đan Mạch (1) Bia đá Jelling
Bia đá Jelling gồm có 2 tấm đá khắc chữ rune của Đan Mạch ở sân nhà thờJelling. Các chữ rune được khắc trên các tấm bia này rất quan trọng về mặt lịch sử.[1] Cùng với nhà thờ Jelling và 2 nấm mộ cổ đắp cao, các Bia đá Jelling đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới năm 1994 (kỳ họp thứ 18).

Dịch nghĩa: "Vua Harald ra lệnh làm bia đá này để tưởng niệm Gorm, người cha - và Thyra, người mẹ của mình. Harald đã chiến thắng toàn bộ Đan Mạch cùng Na Uy và làm cho các người Đan Mạch trở thành Kitô hữu"
Dịch nghĩa: "Vua Harald ra lệnh làm bia đá này để tưởng niệm Gorm, người cha - và Thyra, người mẹ của mình. Harald đã chiến thắng toàn bộ Đan Mạch cùng Na Uy và làm cho các người Đan Mạch trở thành Kitô hữu"
9 Đan Mạch
Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Danmark, tiếng Anh: Denmark) là một quốc gia thuộc vùng Scandinavia ở Bắc Âu và là thành viên chính của Vương quốc Đan Mạch. Đan Mạch nằm ở vùng cực nam của các nước Nordic, nằm phía Tây Nam của Thụy Điển, phía Nam của Na Uy và giáp với Đức về phía Nam.

không thuộckhu vực đồng Euro
Đan Mạch có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới.[2]Từ năm 2006 đến 2008, theo thăm dò, Đan Mạch được xếp hạng là nơi hạnh phúc nhất thế giới dựa trên các tiêu chí sức khỏe, phúc lợi xã hội và giáo dục.[3]Thăm dò Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2009 xếp Đan Mạch là nước yên bình thứ nhì trên thế giới sau New Zealand.[4] Đan Mạch được xếp là nước ít tham nhũng nhất trên thế giới theo Chỉ số nhận thức tham nhũng 2008, cùng hạng với Thụy Điển và New Zealand.[5]
Theo thống kê năm 2006 thì những người theo Giáo hội Luther Quốc giáo chiếm 95%, Công giáo Rôma 3%, Hồi giáo 2% (hầu như toàn người nhập cư), các đạo khác hoặc vô thần 13,1%.
Con người đã sống ở Đan Mạch từ khoảng năm 12.500 trước Công nguyên và có bằng chứng ngành nông nghiệp đã tồn tại từ khoảng năm 3900 trước Công nguyên
Tàu Ladby, con tàu lớn nhất củangười Viking được tìm thấy ngoài khơi Đan Mạch.

Nhờ có 2 tấm bia đá khắc chữ rune ở Jelling (nam bán đảo Jylland, tấm nhỏ do Gorm già dựng khoảng năm 955, tấm lớn do Harald răng xanhdựng khoảng năm 965) mà ta biết vị vua đầu tiên của bán đảo Jylland là Gorm già Gorm den Gamlevà là cha của Harald Blauzahn (Harald răng xanh), người sau này đã thống nhất Đan Mạch vào năm 980. Hai tấm bia kể trên được coi là "Giấy khai sinh của Đan Mạch".
Cho tới tận thế kỷ 11 người Đan Mạch vẫn còn được coi là người Viking, dân tộc đã từng làm chủ nhiều thuộc địa và thâu tóm việc buôn bán khắp châu Âu. Người Viking cũng như thường xuyên cướp phá và gây chiến. Họ bắt đầu đòi cái gọi là Danegæld(món nợ người Đan Mạch) theo đó thì các vua Anh phải nộp thuế cho vua Đan Mạch, để không bị cướp bóc, vì họ có một hạm đội rất mạnh.
Năm 1989, Đan Mạch trở thành nước đầu tiên trên thế giới thông qua luật cho phép người đồng tính luyến ái được phép chung sống với nhau.
Mặc dù được biết đến nhiều hơn trong vai trò một nhà triết học, Søren Kierkegaard (1813 - 55) cũng là một tên tuổi lớn của nền văn học Đan Mạch.
| Thủ đô | Copenhagen |
|---|
không thuộckhu vực đồng Euro
Đan Mạch có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới.[2]Từ năm 2006 đến 2008, theo thăm dò, Đan Mạch được xếp hạng là nơi hạnh phúc nhất thế giới dựa trên các tiêu chí sức khỏe, phúc lợi xã hội và giáo dục.[3]Thăm dò Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2009 xếp Đan Mạch là nước yên bình thứ nhì trên thế giới sau New Zealand.[4] Đan Mạch được xếp là nước ít tham nhũng nhất trên thế giới theo Chỉ số nhận thức tham nhũng 2008, cùng hạng với Thụy Điển và New Zealand.[5]
Theo thống kê năm 2006 thì những người theo Giáo hội Luther Quốc giáo chiếm 95%, Công giáo Rôma 3%, Hồi giáo 2% (hầu như toàn người nhập cư), các đạo khác hoặc vô thần 13,1%.
Con người đã sống ở Đan Mạch từ khoảng năm 12.500 trước Công nguyên và có bằng chứng ngành nông nghiệp đã tồn tại từ khoảng năm 3900 trước Công nguyên
Tàu Ladby, con tàu lớn nhất củangười Viking được tìm thấy ngoài khơi Đan Mạch.
Nhờ có 2 tấm bia đá khắc chữ rune ở Jelling (nam bán đảo Jylland, tấm nhỏ do Gorm già dựng khoảng năm 955, tấm lớn do Harald răng xanhdựng khoảng năm 965) mà ta biết vị vua đầu tiên của bán đảo Jylland là Gorm già Gorm den Gamlevà là cha của Harald Blauzahn (Harald răng xanh), người sau này đã thống nhất Đan Mạch vào năm 980. Hai tấm bia kể trên được coi là "Giấy khai sinh của Đan Mạch".
Cho tới tận thế kỷ 11 người Đan Mạch vẫn còn được coi là người Viking, dân tộc đã từng làm chủ nhiều thuộc địa và thâu tóm việc buôn bán khắp châu Âu. Người Viking cũng như thường xuyên cướp phá và gây chiến. Họ bắt đầu đòi cái gọi là Danegæld(món nợ người Đan Mạch) theo đó thì các vua Anh phải nộp thuế cho vua Đan Mạch, để không bị cướp bóc, vì họ có một hạm đội rất mạnh.
Năm 1989, Đan Mạch trở thành nước đầu tiên trên thế giới thông qua luật cho phép người đồng tính luyến ái được phép chung sống với nhau.
Mặc dù được biết đến nhiều hơn trong vai trò một nhà triết học, Søren Kierkegaard (1813 - 55) cũng là một tên tuổi lớn của nền văn học Đan Mạch.
Nhãn:
12.500 trước Công nguyên. 955,
980,
Copenhagen,
đồng Euro,
hạnh phúc nhất thế giới,
ít tham nhũng nhất trên thế giới,
kinh doanh tốt nhất thế giới,
Viking
Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016
8 Síp (3) Choirokoitia
Di chỉ Choirokoitia được coi là 1 trong các di chỉ từ thời tiền sử quan trọng nhất của vùng đông Địa Trung Hải, và được bảo quản tốt. Quan trọng vì đây là bằng chứng rõ ràng về 1 xã hội được tổ chức theo chức năng dưới hình thức cư ngụ tập thể, có tường lũy bao quanh che chắn bảo vệ chung. Nơi đây đã có người cư ngụ từ thiên niên kỷ 7 tới thiên niên kỷ 4 trước Công nguyên.
Dân cư ở Choirokoitia thời đó sống bằng nghề trồng trọt, hái các trái cây mọc hoang, săn bắn và chăn nuôi gia súc. Đó là 1 làng khép kín, cách biệt với thế giới bên ngoài bởi 1 sông và 1 tường lũy chắc chắn bằng đá cao 3 m, dày 2,5 m. Dường như chỉ có thể vào làng qua các lỗ ở tường.
Dân số trong làng được ước tính chỉ khoảng từ 300 tới 600 người, thuộc giống người không cao - đàn ông trung bình chỉ cao tới 1,61 m và phụ nữ khoảng 1,51 m. Tỷ lệ tử vong của trẻ em rất cao, và tuổi thọ của đàn ông chỉ khoảng 35, đàn bà khoảng 33.
Các người chết được chôn dưới nền nhà trong tư thế ngồi xổm.
Làng Choirokoitia đột nhiên bị bỏ hoang trong khoảng 1.500 năm, không rõ lý do, từ khoảng năm 6000 trước Công nguyên, cho tới khi nhóm người Sotira tới định cư.
8 Síp (2) Dãy núi Troodos
Dãy núi Troodos (tiếng Hy Lạp: Τρόοδος [ˈtɾooðos]; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Trodos Dağları) là dãy núi nằm ở vùng trung tâm đảo và cũng là dãy núi lớn nhất ở Síp. Đỉnh cao nhất của dãy núi này là Olympus cao 1.952 mét, là một địa danh trượt tuyết nổi tiếng
8 Síp (1) Paphos
Paphos (tiếng Hy Lạp: Πάφος, Páfos; tiếng Latin: Paphus; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Baf) nằm phía tây nam Cộng hòa Síp và là thủ phủ của quận Paphos. Paphos chi làm hai địa điểm được gọi là Paphos cổ và Paphos mới. Gần Palaepaphos (Paphos cổ), tại một bờ biển Petra-tou-Romiou là nơi sinh nữ thần tình yêu và sắc đẹp Aphrodite. Paphos cổ đã trở thành nơi nổi tiếng nhất với sự thờ phụng Aphrodite trong thế giới cổ đại. Paphos nổi tiếng với các phần còn lại của cung điện của thống đốc La Mã... đều là các điểm thu hút du lịch lớn. Các tông đồ của Paul Tarsus viếng thăm thị trấn trong thế kỷ đầu tiên.

8 Síp
Cái tên "Síp" trong tiếng Việt có lẽ có nguồn gốc từ tên quốc gia này trong tiếng Pháp là "Chypre". Còn trong tiếng Anh, từ Cyprus có từ nguyên hơi khó xác định. Một lời giải thích có thể là từ tiếng Hy Lạp chỉ cây bách Địa Trung Hải (Cupressus sempervirens), κυπάρισσος (kypárissos), hay thậm chí cái tên Hy Lạp của cây lá móng (Lawsonia alba), κύπρος (kýpros). Một lời giải thích khác cho rằng nó xuất phát từ từ Eteocypriot cho đồng. Ví dụ, Georges Dossin, cho rằng nó có nguồn gốc từtiếng Sumer cho đồng đỏ (zubar) hay đồng thiếc (kubar), bởi trữ lượng đồng lớn được tìm thấy trên hòn đảo. Thông qua thương mại xuyên biển hòn đảo này được đặt tên theo từ tiếng La tinh cổ cho loại kim loại này thông qua câu aes Cyprium, "kim loại của Síp", sau này viết gọn thành Cuprum.[11] Síp cũng được gọi là "hoàn đảo của Aphrodite hay tình yêu",[12] bởi trong thần thoại Hy Lạp, vị nữ thần Aphrodite, của sắc đẹp và tình yêu được sinh ra tại Síp.
các xương sọ của chúng là khởi nguồn cho truyền thuyết Cyclops
Những di tích của một chú mèo tám tháng tuổi được tìm thấy được chôn cất với người chủ của nó tại một địa điểm Đồ đá mới riêng biệt tại Síp.[16] Ngôi mộ được ước tính có 9.500 năm tuổi, trước cả nền văn minh Ai Cập cổ đại và đẩy lùi thời điểm diễn ra sự thuần hoá thú nuôi của loài ngườilên sớm rất nhiều.
Síp là một trong những điểm dừng đầu tiên trong chuyến hành trình truyền giáo của Sứ đồ Phaolô.
Đây cũng là một trong năm nước duy nhất của Liên minh châu Âu có tôn giáo chính thức của nhà nước, (Giáo hội Chính thống Síp, bốn quốc gia kia là Malta, Hy Lạp, Đan Mạch và Anh Quốc Anh giáo
9251 km² (hạng 161)
801600 người (hạng 157)
các xương sọ của chúng là khởi nguồn cho truyền thuyết Cyclops
Những di tích của một chú mèo tám tháng tuổi được tìm thấy được chôn cất với người chủ của nó tại một địa điểm Đồ đá mới riêng biệt tại Síp.[16] Ngôi mộ được ước tính có 9.500 năm tuổi, trước cả nền văn minh Ai Cập cổ đại và đẩy lùi thời điểm diễn ra sự thuần hoá thú nuôi của loài ngườilên sớm rất nhiều.
Síp là một trong những điểm dừng đầu tiên trong chuyến hành trình truyền giáo của Sứ đồ Phaolô.
Đây cũng là một trong năm nước duy nhất của Liên minh châu Âu có tôn giáo chính thức của nhà nước, (Giáo hội Chính thống Síp, bốn quốc gia kia là Malta, Hy Lạp, Đan Mạch và Anh Quốc Anh giáo
9251 km² (hạng 161)
801600 người (hạng 157)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)