Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016
12 Hà Lan (5) Đồng hồ con lắc
Đồng hồ con lắc, đồng hồ quả lắc là một loại đồng hồ được hoạt động bởi một con lắc và một quả nặng. Sự chuyển động của qua lại của con lắc và quả nặng điều khiển các bánh răng và làm quay các kim giờ, kim phút trên mặt đồng hồ. Được phát minh bởi Christiaan Hygens vào năm 1656, và đến năm 1930, đồng hồ con lắc là loại đồng hồ chính xác nhất thời bấy giờ. Đồng hồ con lắc chỉ có thể hoạt động khi ở trạng thái cố định, nếu hộp đồng hồ bị dịch chuyển thì chuyển động của con lắc có thể bị sai lệch. Đồng hồ con lắc bây giờ được giữ vì tính chất trang trí và cổ điển của chúng.
12 Hà Lan (4) Christiaan Huygens
Christiaan Huygens sinh năm 1629 tại Den Haag, Hà Lan trong một gia đình quyền quý có truyền thống khoa học, bố ông là Constantijn Huygens, vốn là thư ký cho hoàng tử và là bạn của René Descartes. Ông học luật và toán ở Đại học Leiden và Đại học Orange ở Breda trước khi chuyển sang học khoa học.
Với tư cách một nhà vật lý, Huygens đã thu hút sự chú ý từ giới khoa học với ý kiến cho rằng ánh sáng có tính chất sóng, mà sau đó đã trở thành phương tiện để hiểu lưỡng tính sóng hạt. Năm 1655, sử dụng kiểu kính thiên văn do mình chế tạo, Christiaan Huygens đã phát hiện ra vê tinhTitan của Sao Thổ và kiểm chứng được rằng vành đai Sao Thổ có chứa đá [2]. Cùng năm đó ông quan sát và vẽ phác thảo được hình dáng củatinh vân Orion, những khám phá này sau đó được in trong tác phẩmSystema Saturnium (1659). Huygens cũng thành công trong việc chia tinh vân thành các ngôi sao khác nhau, nội vùng sáng hơn của tinh vân Orion được đặt tên là Vùng Huygens (Huygens region). Ông cũng đồng thời phát hiện ra vài tinh vân năm giữa các vì sao và các ngôi sao kép. Huygens đa đưa ra công thức mà bây giờ được biết đến dưới cái tên định luật thứ hai về chuyển động của Isaac Newton trong dạng một phương trình bậc hai. Newton đã công bố lại công thức và tổng quát hóa định luật này lên.

12 Hà Lan (3)
Annelies Marie Frank (nghe (trợ giúp·chi tiết)) (12 tháng 6 năm 1929 - 12 tháng 3 năm 1945) là nhà văn và tác giả hồi ký người Đức gốc Do Thái. Cô là một trong những nạn nhân người Do Thái được biết đến nhiều nhất trong cuộc tàn sát Holocaust. Tác phẩm Nhật ký Anne Frank, ghi chép lại cuộc đời của cô trong khi ẩn náu lúc quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng thời Thế chiến thứ 2, là một trong những quyển sách nổi tiếng nhất thế giới, gây cảm hứng cho nhiều vở diễn và tác phẩm điện ảnh.
Sinh ra tại Frankfurt am Main, Đức, Anne lớn lên gần Amsterdam, Hà Lan. Vào năm 1941, cô bị tước đi tư cách công dân và trở thành người không có quốc tịch. Sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền vào tháng 1 năm 1933, gia đình Anne Frank rời khỏi Frankfurt đến Amsterdam cuối năm 1933 để thoát khỏi sự truy đuổi của Đức Quốc xã. Từ tháng 7 năm 1942, họ sống trốn tránh trong những căn phòng được ngụy trang, khi đó Anne 13 tuổi. Sau hai năm, do bị chỉ điểm, gia đình Anne bị phát hiện và đưa tới trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1945, khi cô 15 tuổi, Anne cùng chị gái Margot Frank mất tại trại Bergen-Belsen, chỉ vài tuần trước khi trại giải thể vào tháng 4.
Ông Otto Frank, cha của Anne là người duy nhất trong nhóm sống sót trở về Amsterdam sau chiến tranh và tìm thấy nhật ký của con gái do Miep Gies lưu giữ. Ông đã quyết định cho xuất bản cuốn nhật ký bằng tiếng Hà Lan với tênHet Achterhuis: Dagboekbrieven van 12 Juni 1942 – 1 Augustus 1944 (Căn nhà phía sau: Những trang nhật ký từ 12 tháng 6 năm 1942 - 1 tháng 8 năm 1944) vào năm 1947. Phiên bản tiếng Anh của cuốn nhật ký ra mắt vào năm 1952 với tựa đề The Diary of a Young Girl, sau đó được chuyển thể sang hơn 60 ngôn ngữ. Cuốn nhật ký mà Anne được tặng nhân dịp sinh nhật lần thứ 13, đã ghi lại cái nhìn của cô về những sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian từ 12 tháng 6 năm 1942 tới 1 tháng 8 năm 1944.
Bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]
- Bản dịch của Bửu Ý, dịch từ bản tiếng Pháp vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ 20,[12].
- Bản dịch của Đặng Kim Trâm (em của Đặng Thùy Trâm), dịch từ bản tiếng Anh, được xuất bản năm 2006.
12 Hà Lan (2)
Rembrandt Harmenszoon van Rijn (15 tháng 7 năm 1606 - 4 tháng 10 năm1669), thường được biết tới với tên Rembrandt hay Rembrandt van Rijn, là một họa sĩ và nghệ sĩ khắc bản in nổi tiếng người Hà Lan. Ông thường được coi là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử hội họa châu Âu nói chung và Hà Lan nói riêng[1]. Các tác phẩm của Rembrandt đã đóng góp quan trọng vào Thời đại hoàng kim của Hà Lan thế kỉ 17.
Ngay từ khi còn trẻ Rembrandt đã đạt được thành công lớn với các bức tranh chân dung, tuy những năm sau đó ông gặp nhiều bi kịch cá nhân hay những khó khăn về tài chính, họa sĩ vẫn được coi là một trong những người Hà Lan nổi tiếng nhất thời đó[2] và ông là thầy dạy cho gần như tất cả các họa sĩ Hà Lan hàng đầu thế kỉ 17[3].
Trong một lá thư gửi cho Huyghens, Rembrandt đã tiết lộ điều ông tìm kiếm trong nghệ thuật, đó là "chuyển động (hay cảm xúc) tự nhiên nhất và tuyệt vời nhất"
Năm 1626 ông sáng tác bản khắc in đầu tiên, sự phổ biến của tác phẩm này đã đưa đến cho họa sĩ danh tiếng ở khắp châu Âu[26]. Năm 1629 Rembrandt hoàn thành hai bức Judas ăn năn và Người họa sĩ trong xưởng vẽ, những tác phẩm này là bằng chứng cho sự quan tâm của ông tới việc nắm bắt ánh sáng và kĩ thuật phối màu, đây là bước tiến quan trọng đầu tiên trong sự nghiệp hội họa của Rembrandt[26].
Trong thời gian đầu ở Amsterdam (1632-1636), Rembrandt bắt đầu minh họa các hình ảnh trong kinh thánh và thần thoại với độ tương phản cao trong các bức tranh khổ lớn, điển hình là các bức Sự mù quáng của Samson (1636) và Bữa tiệc của Belshazzar ([[1635). Có lẽ đây là một hình thức cạnh tranh với phong cách vẽ Ba-rốc của Rubens[26]. Ông cũng cho ra đời một số bức chân dung đáng chú ý cả ở khổ nhỏ như Jacob de Gheyn III và khổ lớn như Chân dung người đóng tàu Jan Rijcksen và vợ, Buổi học giải phẫu của Bác sĩ Nicolaes Tulp.[26].
Cuối thập niên 1630, Rembrandt tập trung vào khắc bản in hơn là hội họa, ông cho ra đời rất nhiều bản khắc về phong cảnh. Từ năm 1640 họa sĩ bắt đầu tiết giảm màu sắc trong các tác phẩm, có lẽ điều này chịu ảnh hưởng từ những bi kịch cá nhân mà ông gặp phải trong giai đoạn này. Năm 1642 Rembrandt sáng tác bức tranh nổi tiếng De Nachtwacht, tác phẩm lớn nhất và đáng chú ý nhất của họa sĩ.
Theo Livingstone, có lẽ sự khiếm khuyết này lại là một món quà cho những họa sĩ lớn như Rembrandt: "Các giảng viên nghệ thuật thường yêu cầu sinh viên nhắm một mắt để làm phẳng những gì họ nhìn thấy. Vì vậy việc bị mù lập thể không những không phải là một khuyết tật, trái lại nó lại là một món quà cho các nghệ sĩ.". Tuy nhiên cần phải thấy rằng trong các bức tranh Rembrandt dựng lại rất tốt hình khối của các vật thể, đặc biệt là các khuôn mặt, để cảm thụ được độ sâu của mẫu như vậy người họa sĩ rõ ràng phải có khả năng nhìn vật thể ba chiều một cách bình thường.
12 Hà Lan (1) Maurits Cornelis Escher
Maurits Cornelis Escher (17 tháng 6 năm 1898 - 27 tháng 3 năm 1972), còn gọi là M.C Escher, là một nghệ sĩ đồ họa người Hà Lan. Ông được biết đến với những tác phẩm hội họa toán học như:tranh khắc gỗ, tranh in thạch bản và tranh in khắc nạo. Tác phẩm của ông thường nói về những kiến trúc bất khả thi, khám phá về chiều vô tận, các công trình kiến trúc và các phương pháp khảm lát sàn nghệ thuật.


12 Hà Lan
Hà Lan, còn gọi là Hoà Lan (tiếng Hà Lan: Nederland, tiếng Anh:Netherlands), là một trong số bốn quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan, cương vực bao gồm Hà Lan bản thổ nằm ở tây bắc châu Âu và một số đảo ở vùng biển Caribe. Hà Lan bản thổ chiếm đại bộ phận lãnh thổ Hà Lan, phía bắc và phía tây giáp biển Bắc, phía đông giáp nước Đức, phía nam giáp nước Bỉ.
Hà Lan là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao và nằm thấp nhất so với mực nước biển trên thế giới. Hà Lan có khoảng 27% diện tích và 60% dân số nằm ở khu vực có độ cao dưới mực nước biển.[3][4] Và Hà Lan nổi tiếng với các con đê, cối xay gió, giày gỗ, hoa tulip và sự đa dạng về xã hội. Các chính sách tự do của quốc gia này thông thường được đề cập tới ở nước ngoài. Quốc gia này là nơi đặt trụ sở của Tòa án Quốc tế vì Công lý.Amsterdam là thủ đô chính thức được công nhận trong hiến pháp. Den Haag(hay còn gọi là La Haye theo tiếng Pháp) là thủ đô hành chính (nơi hội họp của chính phủ), nơi ở của Nữ hoàng, và là nơi đặt trụ sở của nhiều đại sứ quán, của Toà án quốc tế.
Hà Lan cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép sử dụng ma tuý công khai; công nhận mại dâm như một nghề hợp pháp, khu phố mại dâm hay còn gọi là khu Đèn Đỏ ở Amsterdam còn là một điểm đến trong hầu hết các tour du lịch. Hà Lan cũng đi tiên phong trong việc công nhận kết hôn đồng giới.

Hà Lan đầu tư hơn 150 tỉ USD ở Mỹ - lớn thứ 3 sau Anh và Nhật, Mỹ là nhà đầu tư lớn nhất ở Hà Lan với hơn 200 tỉ USD). Hà Lan chú trọng quan hệ với các nước đang phát triển (một phần vì thuộc địa trước đây), tranh thủ tài nguyên, thị trường tiêu thụ...[8]
Sau Mỹ và Pháp, Hà Lan là nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lớn thứ ba trên thế giới.
Công ty Đông Ấn Hà Lan được coi là tập đoàn xuyên quốc gia đầu tiên trên thế giới. Do vậy, thế kỷ 17 được coi là "thế kỷ Hà Lan", sau đó bị Anh, Đức, Mỹvượt lên
Mấy thập niên qua, Hà Lan đã xây dựng thành công nền kinh tế tri thức. Dịch vụ chiếm 74%, công nghiệp 24% và nông nghiệp 2% GDP. 98% dân cótivi và sử dụng internet (thứ 2 thế giới sau Israel), 91% dân sử dụng máy vi tính, cao thứ 3 thế giới (sau Canada và Thụy Sĩ).
Hà Lan có các tập đoàn hàng đầu thế giới như Shell (số 1 thế giới năm 2008), Philips (công ty điện tử đầu tiên trên thế giới),Unilever, Akzo Nobel, tập đoàn ING và ABN...
Nhãn:
Amsterdam,
Công ty Đông Ấn Hà Lan,
Philips (công ty điện tử đầu tiên trên thế giới),
số 1 thế giới năm 2008,
sử dụng ma tuý công khai,
thứ ba trên thế giới
11 Estonia (1) Tallinn
Tallinn được xếp hạng là một thành phố toàn cầu và đã được liệt kê trong số 10 thành phố hàng đầu kỹ thuật số trên thế giới. Tallinn là Thủ đô Văn hóa châu Âu năm 2011, cùng với Turku, Phần Lan.
11 Estonia
Estonia ( /ɛˈstoʊniə/;[4][5] tiếng Estonia: Eesti, Tiếng Việt: E-xtô-ni-a[6]), tên chính thức là Cộng hòa Estonia (tiếng Estonia: Eesti Vabariik) là một quốc gia ở khu vực Bắc Âu. Estonia tiếp giáp với Liên bang Nga về phía đông, giáp với Latvia về phía nam, giáp với vịnh Phần Lan về phía bắc và giáp vớibiển Baltic về phía tây. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số của Estonia là 1.315.912 người[7], mật độ dân số khoảng 30 người/km².
10 Đức (10) Tượng Roland Bremen
Tượng Roland Bremen là một bức tượng bằng đá cao 5,47 m nằm tại quảng trường trung tâm Bremen, trước Tòa đô chính Bremen đượcUNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới năm 2004.
Bức tượng được xây dựng vào năm 1404 bởi Albert II nhằm thay thế bức tượng bằng gỗ đã bị cháy vào năm 1366. Bức tượng cao 5,47 m, đứng trên một đài cao 60 cm, được hỗ trợ bởi một cột đỡ cao 10,21 m. Bức tượng tượng trưng cho một người anh hùng đã hi sinh trong cuộc chiến đấu La Mã thần thánh dưới thời Charlemagne (vị hoàng đế đầu tiên của Đức), tại trậnRoncevaux là bá tước Brittany với hình ảnh một hiệp sĩ tay phải cầm kiếm, trước ngực là lá chắn hình đại bàng hai đầu. Bức tượng được coi như là ngươi bảo vệ của thành phố, biểu tượng của tự do, và trở thành hình ảnh nổi bật khắp các thị trấn, thành phố ở Đức.
Đây được coi là bức tượng Roland cổ xưa nhất còn sót lại. Năm 1983, nó được bảo vệ bởi một hàng rào bảo vệ và đã qua nhiều lần sửa chữa, phần đầu của bức tượng đã được thay thế bởi một bản sao.
10 Đức (9) Lâu đài Wartburg
Lâu đài Wartburg là một lâu đài nằm trên một vách đá cao 410 mét về phía tây nam và đối diện với thị xã Eisenach, bangThuringia, Đức. Năm 1999,UNESCO đã liệt kê lâu đài này vào danh sách di sản thế giớivới lý do lâu đài này là "công trình nổi bật của thời kỳ phong kiến ở Trung Âu", "có giá trị văn hoá toàn cầu".[1] Lâu đài này đã được bá tước Schauenburg, Ludwig der Springer thiết lập năm 1067. Theo một truyền thống hài hước, toà lâu đài (Burg) đã có tên như vậy khi người lập ra nó nhìn vào đỉnh đồi mà ngày nay toà lâu đài đang toạ lạc, người ta cho rằng ông đã thốt lên "Warte, Berg -- du sollst mir eine Burg werden!" ("Hãy đợi đấy, núi--ngươi sẽ trở thành một lâu đài cho ta!")[2] Toà lâu đài Wartburg đã là nơi đóng đô của các lãnh chúa Thuringia cho đến năm 1440[3], và với tư cách là một trung tâm của văn hoá quý tộc, tại đây đã diễn ra cuộc đọ sức giữa các nghệ sĩ nhạc cung đình Đức như Walther von der Vogelweide[4], Wolfram von Eschenbach[5]
Lúc lên 4, St. Elisabeth của Hungary đã được mẹ gửi tới Wartburg nhằm nuôi dưỡng để thành cung phi của Ludwig IV của Thuringia. Từ năm 1211 đến năm 1228, bà đã sống ở đây và nổi tiếng với các công việc từ thiện.[6]
Căn phòng trong Lâu đài Wartburg, nơi Luther dịch Tân Ước sang tiếng Đức. Ấn bản đầu tiên của bản dịch được đặt trong ngăn kéo của bàn viết.
Một nhóm gồm năm kỵ sĩ bịt mặt chặn bắt Martin Luther khi ông vừa rời khỏi Nghị viện Worms và đưa ông về lâu đài Wartburg. Tại đây ông phải mặc trang phục hiệp sĩ, để râu dài và được gọi dưới tên Junker Jorg (Hiệp sĩ George). Trong thời gian ẩn dật, Luther vẫn tiếp tục làm việc cật lực, lần này ông bắt tay dịch sang tiếng Đức bản Kinh thánh Tân Ước nổi tiếng (được ấn hành năm 1522).
10 Đức (8) Nhà thờ chính tòa Köln
Nhà thờ chính tòa Köln (hay nhà thờ lớn Köln) với tên chính thức Hohe Domkirche St. Peter und Maria (Nhà thờ thánh Phêrô và Đức Mẹ Maria) là một nhà thờ Công giáo Rôma với chức năng là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Köln, Đức. Với độ cao 157 m nhà thờ này là nhà thờ cao thứ nhì của Đức sau Nhà thờ Tin Lành Ulm (Ulmer Münster) và là nhà thờ cao thứ ba của thế giới. Nhà thờ chính tòa Köln đứng cạnh nhà ga chính của Köln và giáp với sông Rhein.
Nhà thờ lớn Köln là nhà thờ được xây dựng theo phong cách Gothic lớn thứ ba trên thế giới (sau Nhà thờ lớn Sevilla và Nhà thờ lớn Milano). Nhiều nhà sử học về nghệ thuật nhận định công trình xây dựng này là một sự phối hợp hài hòa có một không hai của tất cả các nguyên tố xây dựng và của trang trí trong phong cách kiến trúc Gothic thời Trung cổ. Vì lý do này mà năm 1996 nhà thờ lớn Köln được đưa vào trong danh sách di sản thế giới củaUNESCO[1]. Diện tích khổng lồ của mặt tây với hai tháp tổng cộng trên 7.000 m² cho đến nay vẫn chưa có nơi nào vượt qua được[2].
Từ 1880 đến 1888 Nhà thờ lớn Köln đã là ngôi nhà cao nhất thế giới[3]. Thêm vào đó, nhà thờ là điểm tham quan nổi tiếng nhất ở Đức: Năm 2001 có 5 triệu khách tham quan, năm 2004 là 6 triệu khách tham quan đến từ khắp nơi trên thế giới[4].Và trong một ngày đón khoảng 20.000 khách tham quan [5].
10 Đức (7) Di chỉ hóa thạch Messel Pit
Di chỉ hóa thạch Messel Pit là địa danh nổi tiếng nhất thế giới về hóa thạch của động vật có vú thế Eocen cách đây khoảng 57 - 36 triệu năm. Di chỉ này cung cấp bằng chứng về giai đoạn đầu của sự tiến hóa các loài động vật có vú được bảo tồn nguyên vẹn. Đây được coi là một trong bốn địa điểm khảo cổ quan trọng nhất trên thế giới.
Địa danh này nằm ở Darmstadt-Dieburg, bang Hessen, miền Trung nước Đức, cách thành phố Bochum khoảng 250 km. Di chỉ này rộng khoảng 700m, dài 1.000m tổng diện tích là 42 ha. Trước đây, khu vực này là mỏ khai thác dầu đá phiến. Đến năm 1980, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra tài sản vô giá này và đã được mở rộng đến độ sâu 190m.
Trước đây, con người chưa thể biết được thế Eocen, nhưng chính nhờ những phát hiện tại Messel Pit đã mở ra cánh cửa tiếp cận với khoảng thời gian lịch sử này. Tài sản là các hóa thạch được bảo quản trong đá sa thạch, đá ngầm magma, đá phiến bao gồm các mẫu hóa thạch của các loài động vật có vú: các loài động vật linh trưởng, cá voi, dơi, các loài thú có guốc... Ngoài ra là số lượng lớn hóa thạch của các loài cá, côn trùng, bò sát, thực vật.. tạo thành một địa điểm khảo cổ rất lớn và có giá trị vô cùng quan trọng.
10 Đức (6) Xưởng đúc đồ sắt Völklingen
Xưởng đúc đồ sắt Völklingen (tiếng Đức: Völklinger Hütte) nằm tại thành phố Völklingen, bang Saarland, Đức. Năm 1994, xưởng này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Völklinger Hütte là công trình được xây dựng để đúc đồ bằng sắt vào năm 1873 ở Völklingen thuộc bang Saarland. Đến năm 1986 xưởng đúc đồ sắt này ngừng hoạt động.
UNESCO công nhận xưởng đúc đồ sắt này là di sản thế giới vì đây là công trình công nghiệp đầu tiên ở trên thế giới(erstes Industriedenkmal), được xếp vào danh sách một trong những di sản văn hóa thế giới của loài người. Năm 2007 công trình này được đề cử là công trình có tính biểu tượng lịch sử của ngành công nghiệp nặng ở Đức. Đây cũng là công trình văn hóa được bảo vệ theo công ước Haager.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)